Biểu Đồ Tăng Trưởng WHO
Máy tính tăng trưởng WHO miễn phí cho trẻ 0-19 tuổi. Tính bách phân vị, Z-score chiều cao theo tuổi, cân nặng theo tuổi và BMI theo tuổi.
Bách phân vị là gì?
Bách phân vị so sánh trẻ với các trẻ khác cùng tuổi và cùng giới. Ví dụ, bách phân vị 60 về chiều cao nghĩa là 60 phần trăm trẻ cùng tuổi thấp hơn và 40 phần trăm cao hơn.
Z-score là gì?
Z-score cho biết trẻ cách trung vị bao nhiêu độ lệch chuẩn. Bác sĩ nhi ưu tiên Z-score vì nó vẫn có ý nghĩa khi xa khỏi trung tâm, nơi chênh lệch bách phân vị (98 so với 99) khó đọc.
| Z-score | Phân loại |
|---|---|
| < -3 | Suy dinh dưỡng thể thấp còi nặng |
| -3 to -2 | Thấp còi |
| -2 to +2 | Bình thường |
| +2 to +3 | Cao |
| > +3 | Rất cao |
Biểu đồ tăng trưởng WHO là gì?
Biểu đồ tăng trưởng WHO là chuẩn quốc tế do Tổ chức Y tế Thế giới phát triển để đánh giá quá trình phát triển của trẻ từ sơ sinh đến tuổi vị thành niên.
Khác với các biểu đồ quốc gia cũ chỉ mô tả trẻ thực tế đã lớn ra sao, chuẩn WHO mô tả trẻ khỏe mạnh bú mẹ ở sáu quốc gia đa dạng (Brazil, Ghana, Ấn Độ, Na Uy, Oman và Hoa Kỳ) nên lớn thế nào khi dinh dưỡng và chăm sóc y tế tối ưu. Vì vậy đây là tham chiếu toàn cầu cho nhi khoa lâm sàng, giám sát y tế công cộng và các chương trình dinh dưỡng.
Nhóm tuổi
- 0-5 tuổi: Chuẩn Tăng trưởng Trẻ em của WHO xây dựng từ Nghiên cứu Tham chiếu Tăng trưởng Đa trung tâm (MGRS), công bố năm 2006. Đây là biểu đồ chuẩn vàng cho sơ sinh và trẻ nhỏ.
- 5-19 tuổi: Tham chiếu Tăng trưởng WHO cho lứa tuổi học đường và vị thành niên, được tái dựng năm 2007 từ tham chiếu NCHS/WHO 1977 để khớp với chuẩn dưới 5 tuổi ở mốc 5 tuổi.
Vì sao biểu đồ tăng trưởng quan trọng
Biểu đồ giúp bác sĩ và phụ huynh:
- Theo dõi quỹ đạo tăng trưởng theo thời gian, không chỉ một mốc đơn lẻ
- Phát hiện sớm thấp còi, suy mòn, thừa cân và béo phì để can thiệp kịp thời
- Đánh giá tình trạng dinh dưỡng độc lập với chuẩn quốc gia
- Đo lường tác động của can thiệp sức khỏe, dinh dưỡng và bệnh tật
- So sánh tăng trưởng công bằng giữa các quần thể và bối cảnh chăm sóc
Khoảng Z-score nào là lành mạnh cho con tôi?
Z-score từ -2 đến +2 bao phủ khoảng 95 phần trăm trẻ khỏe mạnh và được coi là khoảng bình thường. Z-score từ -3 đến -2 cho thấy thấp còi hoặc thiếu cân ở mức vừa; dưới -3 là nặng và cần theo dõi y khoa. Trên +2 thì tinh tế hơn: với chiều cao chỉ nghĩa là cao (thường do di truyền), nhưng với cân nặng theo tuổi có thể chỉ ra thừa cân, và với cân nặng theo chiều cao thì chỉ ra béo phì. Một Z-score đơn lẻ là bức ảnh chụp: quỹ đạo của con bạn qua nhiều lần khám quan trọng hơn bất kỳ con số nào.
Tôi nên dùng biểu đồ WHO hay biểu đồ CDC?
Với trẻ dưới 2 tuổi, WHO là khuyến nghị toàn cầu - chính CDC đã áp dụng chuẩn WHO cho nhóm tuổi này từ năm 2010. Chuẩn WHO mô tả cách trẻ bú mẹ khỏe mạnh tăng trưởng, trong khi biểu đồ CDC cũ hơn mô tả cách trẻ Mỹ (chủ yếu bú sữa công thức) tăng trưởng trong những năm 1970. Với trẻ 2-19 tuổi cả WHO và CDC đều chấp nhận được; CDC vẫn dùng ở Hoa Kỳ còn WHO dùng trên thế giới. Nếu đổi biểu đồ giữa chừng, hãy chờ một bước nhỏ trong bách phân vị: hai biểu đồ được hiệu chỉnh để khớp tại 2 tuổi nhưng không hoàn toàn giống nhau.
Bé sinh non - biểu đồ này vẫn áp dụng được không?
Có, nhưng hãy dùng tuổi điều chỉnh, không phải tuổi thực, trong hai đến ba năm đầu. Tuổi điều chỉnh = tuổi thực trừ số tuần sinh trước 40 tuần. Một bé sinh ở 32 tuần nay được 8 tháng tuổi nên được vẽ ở mốc 6 tháng trên biểu đồ WHO. Hầu hết bác sĩ điều chỉnh đến 2 tuổi (hoặc 3 tuổi với bé cực non dưới 28 tuần) rồi chuyển sang tuổi thực. Không điều chỉnh thì mọi bé sinh non sẽ trông như thấp còi, dù đang lớn hoàn hảo theo giai đoạn thai kỳ.
Con tôi tụt từ bách phân vị 75 xuống 25 - có nên lo không?
Một bước nhảy bách phân vị lớn duy nhất đáng được nhi khoa xem lại, đặc biệt với trẻ dưới 2 tuổi. Vượt qua hai đường bách phân vị chính (75, 50, 25, 10) đi xuống, hoặc tăng trưởng đột ngột phẳng, có thể báo hiệu vấn đề ăn uống, bệnh mạn tính, dị ứng thực phẩm, kém hấp thu hoặc nguyên nhân nội tiết. Tuy nhiên có hai ngoại lệ bình thường: từ 6-18 tháng nhiều bé chuyển bách phân vị khi kiểu tăng trưởng di truyền tiếp quản cân nặng lúc sinh, và thanh thiếu niên dịch chuyển quanh tuổi dậy thì. Một trẻ liên tục ở cùng một đường là đang ổn, ngay cả khi đường đó là bách phân vị 10 - tính nhất quán mới là điều quan trọng.
Khác biệt giữa cân nặng theo tuổi, cân nặng theo chiều cao và BMI theo tuổi?
Cả ba đều đo thành phần cơ thể nhưng từ các góc độ khác nhau. Cân nặng theo tuổi (dùng 0-10 tuổi) cho biết trẻ có đúng cân nặng kỳ vọng theo ngày sinh nhật không nhưng không tách bạch trẻ gầy cao với trẻ thấp nặng. Cân nặng theo chiều cao (dùng 0-5 tuổi) so sánh cân nặng với chiều cao thực, bắt được suy dinh dưỡng hay dư dinh dưỡng ở trẻ thấp còi hoặc tăng trưởng nhanh. BMI theo tuổi (dùng 5-19 tuổi) là chuẩn cho lứa tuổi học đường và vị thành niên và là chỉ số WHO khuyến cáo để sàng lọc thừa cân và béo phì ở trẻ lớn. Bác sĩ nhi thường xem cả ba khi đánh giá tình trạng dinh dưỡng.
Máy tính này thực sự tính những chỉ số nào?
Máy tính này chấm điểm chiều cao/chiều dài theo tuổi và cân nặng theo tuổi cho cả hai nhóm tuổi, và với nhóm 5-19 tuổi nay còn tính cả BMI theo tuổi - chỉ số WHO khuyến cáo để sàng lọc thừa cân và béo phì ở lứa tuổi học đường và vị thành niên. Nó không tính cân nặng theo chiều cao. Lưu ý WHO không định nghĩa thừa cân hay béo phì từ cân nặng theo tuổi cho trẻ trên 10 tuổi, nên kết luận thừa cân/béo phì cho trẻ trên 10 tuổi ở đây đến từ phân loại BMI theo tuổi (>+1 SD thừa cân, >+2 SD béo phì, <-2 SD gầy còm), không phải từ cân nặng theo tuổi. Mọi Z-score và bách phân vị là ước tính theo phép xấp xỉ phân phối chuẩn Z=(giá trị-trung bình)/SD, không phải bách phân vị LMS (Box-Cox/Cole) chính thức của WHO, nên các giá trị quanh +/-2 SD ở các chỉ số lệch như cân nặng và BMI chỉ mang tính gần đúng. Hãy dùng để định hướng rồi đối chiếu với bảng LMS chính thức của WHO hoặc phần mềm lâm sàng của bạn.
Bách phân vị cao và thấp có thực sự di truyền không?
Phần lớn là có. Chiều cao trung bình của cha mẹ (trung bình chiều cao hai cha mẹ, cộng 6,5 cm cho bé trai hoặc trừ 6,5 cm cho bé gái) dự đoán chiều cao trưởng thành của con với sai số khoảng 5 cm ở hầu hết trẻ khỏe mạnh. Một bé luôn ở bách phân vị 10 với hai cha mẹ thấp đang đi đúng theo gen và không cần điều trị. Một bé có tốc độ tăng trưởng tụt dưới bách phân vị 3 hoặc rõ ràng lệch khỏi quỹ đạo di truyền cần được đánh giá xem có thiếu hormone tăng trưởng, vấn đề tuyến giáp, bệnh celiac, bệnh thận hay yếu tố tâm lý xã hội. Biểu đồ báo động; tiền sử gia đình và khảo sát đầy đủ xác nhận hoặc loại trừ.
Vì sao bé bú mẹ hoàn toàn có vẻ tăng cân chậm trên một số biểu đồ?
Bởi vì một số biểu đồ cũ (đặc biệt CDC trước 2010) được xây dựng từ trẻ bú sữa công thức, vốn tăng cân nhanh hơn trẻ bú mẹ sau 3-4 tháng. Trên các biểu đồ đó, bé bú mẹ hoàn toàn có thể trông như tụt khỏi đường cong dù đang lớn hoàn hảo. Chuẩn WHO dùng chính trẻ bú mẹ làm tham chiếu, nên thể hiện đúng các kiểu tăng trưởng bú mẹ bình thường. Nếu bác sĩ nhi đang so sánh bé bú mẹ của bạn với một biểu đồ cũ, yêu cầu vẽ lại trên biểu đồ WHO là hợp lý.
Bao lâu nên đo chiều cao cân nặng cho trẻ một lần?
Lịch khám nhi tiêu chuẩn ghi chú tăng trưởng tại mỗi lần khám sức khỏe: hàng tháng đến 6 tháng tuổi, 2-3 tháng/lần đến 1 tuổi, 3-6 tháng/lần đến 2 tuổi, hai lần/năm đến 5 tuổi, rồi hàng năm cho đến vị thành niên. Mối lo tăng trưởng, bệnh hoặc vấn đề ăn uống có thể cần đo thường xuyên hơn. Một phép đo đơn lẻ giá trị thấp hơn nhiều so với quỹ đạo qua nhiều lần khám, nên kỹ thuật nhất quán quan trọng: cùng cân, đo chiều cao không giày, lý tưởng cùng giờ trong ngày. Bạn tự vẽ giữa các lần khám cũng tốt để nhận thức nhưng không nên thay thế phần đánh giá chính thức của bác sĩ.

