Thêm game tại WuGames.ioTài trợKhám phá kho game trình duyệt miễn phí — chơi ngay, không tải, không đăng ký.Chơi ngay

Tính Calo Cho Trẻ Em

Tính calo trẻ em với BMR Schofield, TDEE và đối chiếu EER theo IOM/DRI. Calo khuyến nghị và macro cho trẻ 1-18 tuổi theo kg hoặc pao.

tuổi
cm
kg
Nhu cầu calo hàng ngày
kcal/day
kcal/day
kcal/day
Đối chiếu tham khảo
kcal/day
g
Đa lượng
g
g
g
Ít vận động

Rất ít hoặc không tập, chủ yếu ngồi (học, làm bài tập, dùng màn hình).

Vận động nhẹ

Vận động hoặc chơi thể thao nhẹ 1-3 ngày/tuần (giờ thể dục, chơi không tổ chức).

Vận động vừa

Vận động hoặc thể thao mức vừa 3-5 ngày/tuần (thể thao đội, tập đều).

Tích cực

Tập hoặc thi đấu mạnh 6-7 ngày/tuần (thi đấu, tập hàng ngày).

Rất tích cực

Tập rất nặng mỗi ngày, lao động chân tay hoặc tập hai buổi mỗi ngày.

Quan trọng: Các con số trên chỉ là ước lượng. Trẻ đang lớn có nhu cầu thay đổi. Để quản lý cân nặng thực sự, hãy phối hợp với bác sĩ nhi hoặc chuyên gia dinh dưỡng đăng ký thay vì tự cắt giảm calo.

Nhu cầu calo cho trẻ em là gì?

Trẻ em có nhu cầu dinh dưỡng riêng biệt và thay đổi nhanh khi lớn. Nhu cầu calo phụ thuộc vào tuổi, giới tính, kích cỡ cơ thể, giai đoạn tăng trưởng và mức vận động. Đáp ứng đủ giúp trẻ tăng trưởng tốt, phát triển não, miễn dịch khỏe và đủ năng lượng cho ngày học.

Máy tính này dùng công thức Schofield với cả cân nặng và chiều cao (chuẩn FAO/WHO/UNU 1985), là tham chiếu chuẩn để ước tính chuyển hóa cơ bản ở trẻ em và thanh thiếu niên, chính xác hơn các công thức chỉ dùng cân nặng đối với những trẻ có chiều cao xa mức trung bình của tuổi.

Các yếu tố thay đổi nhu cầu calo

  • Tuổi - nhu cầu tăng dần suốt tuổi thơ và đạt đỉnh trong giai đoạn dậy thì
  • Giới tính - các bé trai thường cần nhiều calo hơn bé gái cùng tuổi, đặc biệt sau dậy thì
  • Tốc độ tăng trưởng - trẻ đang tăng nhanh đốt nhiều hơn nhiều so với dự đoán
  • Mức vận động - tiết thể dục, thể thao đội và chơi tự do cộng dồn hàng trăm calo
  • Thành phần cơ thể - khối nạc đốt nhiều hơn mỡ, nên trẻ cơ bắp tiêu hao cao hơn

Đa lượng cho trẻ em

Một chế độ ăn cân bằng cho trẻ nên cung cấp xấp xỉ:

  • Đạm (15-20%): Cần thiết cho tăng trưởng, phát triển cơ, hooc-môn và miễn dịch. Nguồn: thịt nạc, cá, trứng, sữa, đậu, đậu lăng, đậu hũ.
  • Tinh bột (50-60%): Nguồn năng lượng chính cho não và cơ của trẻ hoạt động. Ưu tiên ngũ cốc nguyên cám, trái cây, rau, yến mạch và gạo.
  • Chất béo (25-30%): Thiết yếu cho phát triển não, hooc-môn và hấp thu vitamin tan trong dầu. Chọn các loại hạt, quả bơ, cá và dầu ô liu hơn là đồ chiên.

Mẹo ăn uống lành mạnh cho trẻ

  • Ưu tiên thực phẩm nguyên bản, giàu dinh dưỡng trước; con số calo chỉ là phụ
  • Mục tiêu 5 khẩu phần rau quả mỗi ngày trở lên
  • Đổi cơm trắng, mì trắng, bánh mì trắng sang loại nguyên cám
  • Hạn chế đường thêm và đồ siêu chế biến vì chúng đẩy thực phẩm bổ dưỡng ra khỏi khẩu phần
  • Nước là đồ uống mặc định; nước ép và nước ngọt chỉ dùng dịp đặc biệt
  • Ngồi ăn cùng gia đình khi có thể; điều này dự đoán thói quen ăn tốt hơn
  • Tránh chế độ ăn kiêng khắt khe ở trẻ trừ khi bác sĩ chỉ định
  • Làm gương cho sự tò mò với thức ăn thay vì cảm giác tội lỗi; không khí bữa ăn định hình thói quen cả đời

Tôi có nên đặt con vào chế độ thâm hụt calo không?

Hầu như không nên tự làm. Thực hành nhi khoa tiêu chuẩn với trẻ thừa cân dưới 12 tuổi là giữ cân nặng ổn định trong khi trẻ cao lên, không phải chủ động cắt calo. Thanh thiếu niên béo phì lâm sàng có thể hưởng lợi từ thâm hụt vừa phải, nhưng luôn dưới sự giám sát của bác sĩ nhi hoặc chuyên gia dinh dưỡng. Cắt giảm khắc nghiệt ở trẻ đang lớn có thể làm giảm chiều cao, rối loạn dậy thì, gây rối loạn ăn uống và giảm mật độ xương. Hãy dùng mục tiêu "chậm lại đà tăng" ở đây như con số tham khảo để bàn với bác sĩ, không phải lý do để cắt khẩu phần ở nhà.

Công cụ này so với công thức EER của IOM/DRI thì sao?

Bên cạnh TDEE theo Schofield, công cụ nay hiển thị thêm Nhu Cầu Năng Lượng Ước Tính (EER) độc lập, tính theo Nhu Cầu Dinh Dưỡng Tham Khảo (DRI) của Institute of Medicine (IOM) 2005 - chính là công thức nền cho hướng dẫn năng lượng của USDA và AAP. Công thức dùng tuổi, giới tính, cân nặng, chiều cao và hệ số vận động (PA), kèm số hạng tăng trưởng/tích lũy năng lượng (20 kcal cho 3-8 tuổi, 25 kcal cho 9-18 tuổi). Vì Schofield và EER của IOM xuất phát từ dữ liệu và phương pháp khác nhau, mức khớp giữa chúng là một phép kiểm tra hữu ích: công cụ đánh dấu Khớp tốt (<10% chênh lệch), Tạm được (10-15%) hoặc Kiểm tra lại số liệu (>15%). Chênh lệch lớn thường do nhập sai dữ liệu hoặc trẻ có thể trạng bất thường, chứ không phải hai đáp án cùng đúng; đó là lý do chuyên gia dinh dưỡng luôn đối chiếu thay vì tin vào một công thức duy nhất.

Lượng đạm của con tôi có đạt RDA theo DRI không?

Trường RDA đạm hiển thị Lượng Khuyến Nghị Hằng Ngày theo Nhu Cầu Dinh Dưỡng Tham Khảo (DRI) tính bằng gam, dựa trên cân nặng: 1,05 g/kg cho 1-3 tuổi, 0,95 g/kg cho 4-13 tuổi và 0,85 g/kg cho 14-18 tuổi. Công cụ so sánh số gam đạm từ cách chia macro với RDA đó và gắn nhãn Đạt RDA hoặc Dưới mức RDA. Điều này quan trọng vì mục tiêu theo phần trăm (15-20% calo) có thể đạt trên giấy nhưng vẫn thiếu gam đối với trẻ nhỏ hoặc trẻ kém ăn, hoặc dư thừa đối với thiếu niên lớn năng động. RDA là mức tối thiểu cho cả nhóm để tăng trưởng khỏe mạnh, không phải mức trần: trẻ tập luyện thể thao hay đang tăng trưởng bù thường cần nhiều hơn, nên hãy dùng số gam như mức sàn để kiểm chứng, không phải mức giới hạn.

Vì sao máy tính cần cả chiều cao và cân nặng?

Các công cụ calo trẻ em cũ dùng công thức Schofield chỉ với cân nặng, nhưng chuẩn FAO/WHO/UNU 1985 chính xác hơn dùng cả cân nặng và chiều cao. Đưa chiều cao vào quan trọng vì hai trẻ cùng cân nhưng cao thấp khác xa nhau có chuyển hóa cơ bản chênh đáng kể: một bé 12 tuổi cao, gầy đốt nhiều hơn lúc nghỉ so với bé 12 tuổi thấp, đậm người cùng cân. Với trẻ xa bách phân vị 50 về chiều cao, công thức chỉ dùng cân có thể lệch 100-200 kcal/ngày.

Công thức Schofield có thực sự chính xác cho con tôi không?

Với trẻ khỏe mạnh 3-18 tuổi, Schofield W+H sai số khoảng 10 phần trăm so với BMR đo thực ở hầu hết các nghiên cứu kiểm định. Độ chính xác giảm với trẻ có tỷ lệ mỡ rất cao (công thức có xu hướng cao hơn thực), trẻ phổ tự kỷ (ít dữ liệu), trẻ mắc bệnh mạn tính và trẻ rất cao hoặc nhiều cơ bất thường. Hãy xem kết quả như điểm khởi đầu hợp lý, theo dõi tăng trưởng và năng lượng trong 2-4 tuần, rồi điều chỉnh 100-200 kcal nếu tốc độ tăng trưởng hay khẩu vị không khớp.

Mục tiêu calo nên thay đổi thế nào trong giai đoạn dậy thì?

Trẻ trong giai đoạn dậy thì - thường khoảng 10-12 tuổi với bé gái và 12-14 với bé trai - có thể đốt thêm 300-700 kcal/ngày. Khẩu vị là tín hiệu đáng tin nhất: một trẻ trước đây ăn vừa phải nay luôn đói, ăn hết phần và xin thêm gần như chắc chắn đang giữa giai đoạn dậy thì. Đừng giới hạn khẩu phần trong các giai đoạn này; mở rộng đa dạng thực phẩm (thêm đạm, sữa, trái cây, rau, ngũ cốc nguyên cám, chất béo lành mạnh). Cắt calo trong giai đoạn dậy thì là một trong vài việc thực sự hại chiều cao trưởng thành.

Bao nhiêu calo từ đường và đồ siêu chế biến là quá nhiều?

WHO khuyến nghị giữ đường tự do (đường thêm cộng nước ép trái cây) dưới 10 phần trăm tổng calo, lý tưởng dưới 5 phần trăm để có lợi ích bổ sung. Với một bé 8 tuổi ăn 1800 kcal điển hình, mức trần là khoảng 45 g đường/ngày và mục tiêu lý tưởng 25 g. Một lon nước ngọt đã chứa 35-40 g. Đòn bẩy dinh dưỡng lớn nhất cho sức khỏe trẻ em là thay nước ngọt và đồ siêu chế biến bằng thực phẩm nguyên bản; chỉ làm vậy thôi, không cần gì khác, thường cải thiện tăng trưởng, tâm trạng, giấc ngủ và khả năng tập trung trong vài tuần.

Con tôi có cần vitamin tổng hợp nếu đã đủ calo?

Phần lớn trẻ khỏe mạnh có chế độ ăn đa dạng không cần. Bốn chất thường thiếu ngay cả khi đủ calo là vitamin D, sắt, canxi và omega-3 - và một vitamin tổng hợp cân bằng cộng với một số thực phẩm bổ sung thường bù được. Trẻ có nguy cơ cao hơn gồm trẻ kén ăn, ăn chay/thuần chay, con của các bà mẹ da sẫm ít tiếp xúc nắng và thanh thiếu niên đang có kinh nguyệt (sắt). Bác sĩ nhi có thể đo ferritin và 25-OH vitamin D thay vì đoán; đặc biệt bổ sung sắt mù quáng có thể gây hại.

Vì sao mục tiêu calo nhảy nhiều giữa 9 và 13 tuổi?

Vì khoảng đó bao trùm giai đoạn bắt đầu dậy thì, làm BMR tăng đột ngột và cộng 5-10 cm chiều cao mỗi năm khi cao điểm. Một bé 9 tuổi vận động nhẹ có thể cần khoảng 1700-1900 kcal; chính bé đó vào 13 tuổi giữa giai đoạn tăng trưởng có thể cần 2400-2800. Công thức Schofield thể hiện bước nhảy này qua các dải tuổi cộng cân nặng, nhưng nếu con bạn vừa bước vào dậy thì máy tính có thể đánh giá thiếu nhu cầu vài tháng cho đến lần khám nhi tiếp theo cập nhật cân nặng và chiều cao. Hãy tin khẩu vị như tín hiệu trực tiếp trong những năm này.

Vận động viên hoặc trẻ thi đấu có nên theo máy tính này?

Dùng kết quả làm điểm khởi đầu rồi cộng thêm phần dành riêng cho môn thể thao. Một vận động viên bơi nhỏ tập 90 phút 5 ngày/tuần có thể cần thêm 500-1000 kcal so với hệ số vận động dự đoán, và các môn thể dục dụng cụ, chạy đường dài, chèo thuyền còn cần nhiều hơn. Dấu hiệu trẻ vận động không đủ calo: chững tăng trưởng, dậy thì muộn hoặc gián đoạn, gãy xương do căng thẳng thường xuyên, mất kinh, mệt kéo dài và cáu gắt sau tập. Các dấu hiệu này cần đi khám nhi và lý tưởng là chuyên gia dinh dưỡng thể thao. Chi phí của việc thiếu calo cho vận động viên trẻ cao hơn nhiều so với chi phí của 300 calo thực phẩm thật thêm vào.

Tính Calo Cho Trẻ Em — Tính calo trẻ em với BMR Schofield, TDEE và đối chiếu EER theo IOM/DRI. Calo khuyến nghị và macro cho trẻ 1-18 tuổi theo
Tính Calo Cho Trẻ Em